Chi tiết tin

      E-mail   Print

Hoạt động tháng 11 - Tổ GDCD

TRƯỜNG THPT NGUYỄN DU

                     TỔ: GDCD

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

 

                                                                    Châu Đức, ngày 15 tháng 11 năm 2016

 

HOẠT ĐỘNG THÁNG 11  - TỔ GIÁO DỤC CÔNG DÂN

     Họ và tên giáo viên

1.     Lê Thị Thu Hà – Tổ trưởng

2.     Nguyễn Thành Đô

3.     Mai Thị Mai

4.     Đặng Thị Thu

5.     Nguyễn Thị Oanh

    Thực hiện kế hoạch của Tổ chuyên môn hàng tháng theo định kỳ nay tổ Giáo dục công báo cáo về hoạt động tháng 11 chuyên sâu về thảo luận Nghị quyết 29 –NQ/TQ về đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo cụ thể như sau:

I. Một số phương pháp dạydạyhọc tích cực
1. Phương pháp Bàn tay nặn bột
2. Phương pháp giải quyết vấn đề 
3. Phương pháp dạy học nhóm
4. Phương pháp dự án
5.
Phương pháp đóng vai

II.  Một số kỹ thuật dạy học tích cực
1. Kĩ thuật động não (công não)
2. Kĩ thuật khăn trải bàn

 3. Kĩ thuật phòng tranh
4. Kĩ thuật “ Trình bày một phút”
5. Kĩ thuật lược đồ tư duy.

III. Thảo luận phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực

1. PP Bàn tay nặn bột:

1.1. Dạy học theo PP Bàn tay nặn bột chủ yếu họat động theo nhóm:

- Nên tổ chức nhóm nhỏ từ 4 – 6 HS

- Có sự cần bằng giới tính năng lực

- Mỗi nhóm có nhớm tưởng, thư ký, luân phiên

- Bố trí trong lớp học cần thuận tiện

- Đảm bảo mọi HS có thể quan sát rõ

- Hoạt động thực hành an toàn thuận lợi

- Khuyên kích phát biểu HS.

-Thời gian 2-3 phút, tối đa 5 phút .

1.2. Tiến trình dạy học theo phương pháp “Bàn tay nặn bột”
Bước 1: Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề.
- Là một tình huống do giáo viên chủ động đưa ra như là một cách dẫn nhập vào bài học
- Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi lớn của bài học.
- Câu hỏi phải phù hợp với trình độ học sinh, gây mâu thuẫn nhận thức và kích thích tính tò mò của học sinh.
- Giáo viên phải dùng câu hỏi mở, tuyệt đối không được dùng câu hỏi đóng.
Bước 2: Bộc lộ quan niệm ban đầu của học sinh.
- Khuyến khích học sinh nêu những suy nghĩ, nhận thức ban đầu của mình về sự vật, hiện tưởng mới.
- GV cho HS trình bày bằng nhiều hình thức: viết, vẽ, nói, ….
- GV không nhất thiết phải chú ý tới các quan niệm đúng, cần phải chú trọng đến các quan niệm sai.

Bước 3: Đề xuất câu hỏi hay giả thuyết và thiết kế phương án thực nghiệm.
3.1 Đề xuất câu hỏi.
- Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu, GV giúp HS đề xuất câu hỏi.
- GV cần khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban đầu khác biệt trong lớp từ đó HS đặt câu hỏi liên quan đế bài học để giúp học sinh so sánh
3.2 Đề xuất phương án thực nghiệm nghiên cứu.
- Từ những câu hỏi của HS, GV nêu câu hỏi cho HS đề nghị các em đề xuất thực nghiệm để tìm ra câu trả lời cho các câu hỏi đó.
- GV ghi chú lên bảng các đề xuất của HS để các ý kiến sau không trùng lặp.
- Khuyến khích HS tự đánh giá ý kiến nhau hơn là ý kiến của GV nhận xét.

Bước 4: Tiến hành thực nghiệm tìm tòi – nghiên cứu
- quan sát tranh ,  mô hình, Ưu tiên thực nghiệm trên vật thật
- Từ những khác biệt và phong phú về biểu tượng ban đầu, GV giúp HS đề xuất câu hỏi.
- GV cần khéo léo chọn lựa một số biểu tượng ban đầu khác biệt trong lớp từ đó HS đặt câu hỏi liên quan đế bài học. để giúp học sinh so sánh
Bước 5: Kết luận và hợp thức hóa kiến thức

1.3. Thiết bị sử dụng PP Bàn tay nặn bột:

-         TBDH được sử dụng bao gồm các TBDH truyền thống như: bảng đen, bảng trắng, mô hình, vật thật, tranh ảnh, bản đồ, biểu đồ, dụng cụ thí nghiệm… và các TBDH hiện đại như máy tính, các loại máy chiếu, các loại băng đĩa, phim khoa học… Việc kết hợp hài hòa các loại TBDH sẽ tạo được hứng thú, tăng hiệu quả học tập cho học sinh và giảm sự vất vả cơ bản của giáo viên trong quá trình dạy học.

-         Khi sử dụng phương pháp BTNB, giáo viên cần phải sử dụng TBDH phù hợp, đúng lúc, đúng chỗ, để tạo được hiệu quả cao nhất.

       Chẳng hạn:

+ "Tình huống xuất phát và câu hỏi nêu vấn đề", giáo viên có thể sử dụng tranh ảnh hay video khoa học để kích thích hứng thú nhận thức và khơi dậy những quan niệm ban đầu vốn có của các em về chủ đề nghiên cứu.

+"Tiến hành thực nghiệm tìm tòi - nghiên cứu", giáo viên có thể cho học sinh sử dụng máy tính, mạng internet, tranh ảnh khoa học, sơ đồ, vật thật…để giúp học sinh tìm ra những đặc điểm, tính chất của đối tượng cần nghiên cứu.

2. Kỹ thuật dạy học PP Bàn tay nặn bột

2.1. Kĩ thuật “Khăn trải bàn”

         Cách tiến hành kĩ thuật “Khăn trải bàn” hỗ trợ cho PP Thảo luận nhóm.

- HS được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người. Mỗi nhóm có một tờ giấy A0 đặt trên bàn, như là một chiếc khăn trải bàn.

- Chia giấy A0 thành phần chính giữa và phần xung quanh, tiếp tục chia phần xung quanh thành 4 hoặc 6 phần tuỳ theo số thành viên của nhóm (4 hoặc 6 người).

- GV nêu câu hỏi hoặc vấn đề cho các nhóm.

- Mỗi thành viên trong nhóm suy nghĩ và viết các ý tưởng của mình vào phần cạnh “khăn trải bàn” trước mặt mình. Sau vài phút, khi mọi người đều đã xong, thảo luận nhóm, tìm ra những ý tưởng chung và viết vào phần chính giữa “khăn trải bàn”.

3. Phương pháp giải quyết vấn đề 

*  Cách thực hiện

- Đưa học sinh vào vấn đề /tình huống

GV cho học sinh xem xét một tài liệu mô tả trường hợp nào đó phản ánh vấn đề cần tìm hiểu và giải quyết. Tình huống có thể do giáo viên mô tả bằng lời, có thể học sinh kể hoặc đọc trong tài liệu do giáo viên cung cấp, có thể qua băng hình, phim video, có thể do học sinh đóng ... Trong quá trình mô tả tình huống, nếu có các phương tiện hỗ trợ như tranh/ảnh, băng hình, sơ đồ, bảng biểu ... thì càng tốt.

- Học sinh tìm hiểu vấn đề/ tình huống. Ở bước này, học sinh cần phải xác định, nhận diện được vấn đề/tình huống.

- Thu thập thông tin có liên quan đến vấn đề/tình huống đặt ra.

- Tìm giải pháp giải quyết tình huống

+ Học sinh suy nghĩ tìm cách giải quyết vấn đề/tình huống, đề xuất giải pháp của cá nhân, lí giải, lập luận để bảo vệ giải pháp đó.

 + Liệt kê các các cách giải quyết có thể có.

+ Phân tích, đánh giá kết quả mỗi cách giải quyết (mặt, lợi, mặt hại, cảm xúc ...).

- Lựa chọn giải pháp/cách giải quyết tối ưu.

- Quyết định hành động và thực hiện trong thực tế theo cách giải quyết tình huống đã lựa chọn.

KHI DẠY BÀI : TÌNH YÊU HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

VÍ DỤ 1: Tình huống:

B và D cưới nhau ngày 10/4/1989. Sáng ngày 29.4.1989, B đến bệnh viện xin nạo thai. Bác sĩ hỏi lý do, B kể:

 B và D yêu nhau đã 4 năm, cuối năm 1988 B tốt nghiệp trung cấp Y, đang đợi phân công công tác thì D và gia đình D xin cho cưới. B và gia đình cô đồng ý vì “yêu nhau đã lâu, tìm hiểu đã kĩ, hôn nhân phải đến”, và thủ tục cưới diễn ra gọn, vui, đúng PL.

Gần hết tuần trăng mật mọi người mới bàn việc công tác và ăn ở của đôi vợ chồng trẻ. D và gia đình đòi B phải ở nhà làm ruộng và chăm sóc cha mẹ. Còn B và gia đình B đòi B đi công tác như đã được đào tạo. D tuyên bố: “Nếu không ở nhà thì nạo thai sau đó cắt đứt”. Mỗi bên khăng khăng theo ý của mình và B đã đi đến bệnh viện...

Hỏi:

1. B và D đã có sai lầm gì trong tình yêu?

2.  Hậu quả của sai lầm đó?

2. Theo em,  trong tình yêu cần tránh điều gì?

VÍ DỤ 2: Nếu GV chiếu phim Hỏi:

1. Nội dung đoạn phim trên đã có sai lầm gì trong tình yêu?

2. Hậu quả của sai lầm đó?

3. Theo em, trong tình yêu cần tránh điều gì?

4. Phương pháp dạy học nhóm

*  Cách thực hiện:

Thảo luận nhóm được tiến hành theo các bước sau :

- Giáo viên giới thiệu chủ đề thảo luận

- Chia lớp thành những nhóm nhỏ, giao nhiệm vụ cho các nhóm, quy định thời gian 3 phút, Thời gian tối đa 5 phút và phân công vị trí làm việc của từng nhóm.

- Các nhóm thảo luận giải quyết các nhiệm vụ được giao, ghi kết quả thảo luận ra giấy khổ lớn.

- Từng nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận của nhóm trước lớp. Các nhóm khác lắng nghe và trao đổi ý kiến, nhận xét, bổ sung.

-          GV tổng kết lại những nội dung, vấn đề mà học sinh cần nắm vững, định hướng nhận thức, hành vi của học sinh; nhận xét kết quả làm việc của các nhóm.

Lưu ý: Nên sử dụng Kĩ thuật “Khăn trải bàn” hỗ trợ cho PP Thảo luận nhóm hoặc kỹ thuật phòng tranh.

5. Kĩ thuật “ Trình bày một phút”

Đây là kĩ thuật tạo cơ hội cho HS tổng kết lại kiến thức đã học và đặt những câu hỏi về những điều còn băn khoăn, thắc mắc bằng các bài trình bày ngắn gọn và cô đọng với các bạn cùng lớp. Các câu hỏi cũng như các câu trả lời HS đưa ra sẽ giúp củng cố quá trình học tập của các em và cho GV thấy được các em đã hiểu vấn đề như thế nào.

Kĩ thuật này có thể tiến hành như sau:

- Cuối tiết học (thậm chí giữa tiết học), GV yêu cầu HS suy nghĩ, trả lời các câu hỏi sau: Điều quan trọng nhất các em học đuợc hôm nay là gì? Theo các em, vấn đề gì là quan trọng nhất mà chưa được giải đáp?...

- HS suy nghĩ và viết ra giấy. Các câu hỏi của HS có thể dưới nhiều hình thức khác nhau.

-          Mỗi HS trình bày trước lớp trong thời gian 1 phút về những điều các em đã học được và những câu hỏi các em muốn được giải đáp hay những vấn đề các em muốn được tiếp tục tìm hiểu thêm.

. Kĩ thuật lược đồ tư duy

-         Lược đồ tư duy (còn được gọi là bản đồ khái niệm) là một sơ đồ nhằm trình bày một cách rõ ràng những ý tưởng mang tính kế hoạch hay kết quả làm việc của cá nhân hay nhóm về một chủ đề.

-         Cách tiến hành như sau:

-         Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề.

-         Từ chủ đề/ ý tưởng chính ở trung tâm, vẽ các nhánh chính, trên mỗi nhánh chính viết một nội dung lớn của chủ đề hoặc các ý tưởng có liên quan xoay quanh ý tưởng trung tâm nói trên.

-         - Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ để viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó.

-          Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo.

-         Ứng dụng của lược đồ tư duy

-         Lược đồ tư duy có thể ứng dụng trong nhiều tình huống khác nhau như:

-         Tóm tắt nội dung, ôn tập một chủ đề.

-        Trình bày tổng quan một chủ đề.

-    Thu thập, sắp xếp các ý tưởng.